Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn bè viết.... Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn bè viết.... Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

BẠN ĐỌC VIẾT


Huỳnh Xuân Sơn: Mỗi ngày đọc một tứ thơ hay- 5

NGHIÊNG

Chiều nghiêng...
gió nhẹ nghiêng theo
Trời nghiêng...
một mảnh trăng treo cuối đồi
Thu nghiêng...
gom dải nắng cười
Ta cùng nhau ngắm cảnh trời- đất nghiêng...

(Lê Thanh Bình)





Bốn câu thơ với bốn từ nghiêng lặp lại. Mỗi chiều nghiêng lại mang một ý nghĩa khác nhau. Mở đầu “Chiều nghiêng” mới chỉ là cảm nhận chút “gió nhẹ nghiêng theo”, gợi một chút buồn man mác cho tuổi heo may cuối chiều. Ở tuổi này nếu có chênh chao một chút. Lệch nghiêng một chút, xôn xao một chút về mọi mặt trong cuộc sống. Thì cũng rất dễ lấy lại thăng bằng, khi tuổi đời, tuổi tình, cùng kinh nghiệm sống đã chiêm nghiệm và tích lũy đủ bề dày, độ chín trong cuộc đời. Vậy nên chiều nghiêng dẫu không bao giờ trở lại cột mốc thăng bằng đi nữa thì gió nhẹ sẽ nghiêng theo nhẹ nhàng, bởi vốn dĩ sự nghiêng của chiều là tất yếu.
Trời nghiêng…
Một mảnh trăng treo cuối đồi
Vòng quay của trái đất, sự biến thiên của ngũ hành luôn luôn biến thiên không ngừng nghỉ. Bầu trời hết đêm lại sang ngày, sau thời khắc giao thoa là hừng đông rồi bình minh. Hết ngày lại tới đêm và cũng có một khoảng đệm hoàng hôn. Ánh dương chưa hẳn đã tắt, màn đêm chưa bao phủ khắp lập tức mặt trăng xuất hiện. Có thể trăng tròn, hay khi trăng khuyết nhưng đều đem lại nguồn sáng cho vạn vật. Câu thơ cho người đọc cảm nhận quy luật biến thiên của trời đất. Hiểu để chấp nhận và thích ứng…
Thu nghiêng…
Gom dải nắng cười
Vâng tôi rất đồng ý với chị rằng thu sang mùa của hoa thơm,trái chín. Mùa của nắng vàng gió vàng, mùa của trời xanh. mây trắng, trăng thanh yên bình …Với mỗi chúng ta nhất là phụ nữ khi bước vào tuổi “heo may” của đời người,là lúc cảm nhận về cuộc đời, sự việc và định lượng tình cảm cũng chín nhất.. “Thu nghiêng” nhẹ như “chiều nghiêng” ta đón nhận,như “gió nhẹ nghiêng theo” nó. Một mai thu nghiêng hẳn ta bình thản “Gom dải nắng cười”, để khi bước sang đông có nó sưởi ấm tâm hồn…
Với câu kết “Ta cùng nhau ngắm cảnh trời- đất nghiêng”. Tác giả đã cho ta thấy một kết thúc có hậu, cho một người biết, hiểu, chấp nhận và thích nghi với quy luật của tạo hóa, cũng như sự biến chuyển của trời đất.
Bức tranh Nghiêng nhiều mảng màu tối sáng, nhiều tầng lớp, trong không gian nhiều chiều. Nhưng không gì là khó bởi Ta vẫn đang cùng nhau “Ngắm cảnh trời đất nghiêng”.

Bức tranh trời chiều viên mãn với người vẽ cũng như người chiêm ngưỡng.
Sài Gòn 2/10/2014
Huỳnh Xuân Sơn
Nguồn: http://chieulang.com.vn/chieu-lang/tho/chi-tiet/nghieng-tho-le-thanh-binh-2687.html

Ngựa MCR sang Thi đàn Việt Nam đọc và cóp về để mọi người cùng thưởng thức lời bình ngắn, nhẹ nhàng, súc tích, man mác... như trời cuối Thu!
Thanh Bình rất cám ơn bài cảm nhận của Huỳnh Xuân Sơn về tứ thơ của mình.
Nguồn: http://tho.com.vn/bai-viet/huynh-xuan-son-moi-ngay-doc-mot-tu-tho-hay-5/54852

Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

BẠN ĐỌC VỚI: THÁNG 7 QUÊ MÌNH

Huỳnh Xuân Sơn Cảm Nhận Bài Thơ "Tháng Bảy Quê Mình" Của Tác giả Lê Thanh Bình
Tháng Bảy về khắp các trang thơ ăm ắp những vần thơ viết về Quảng Trị nói riêng và chiến trường trên khắp cả nước nói chung. Không chỉ những chứng nhân của cuộc chiến, những nạn nhân của cuộc chiến, mà ngay cả những thế hệ sinh ra trong lửa đạn lớn lên trong thời bình cũng dâng trào cảm xúc gửi vào thơ.
Lê Thanh Bình là một trong những tác giả như thế. Chị sinh ra và lớn lên ở Vĩnh Linh Quảng Trị. Nơi có dòng sông Bến Hải có cầu Hiền Lương, có kỷ lục lớn nhất nước và có lẽ cũng xót xa nhất nước, tính trung bình mỗi người dân gánh trên vai 7 tấn bom đạn…
Nhưng trong tâm khảm người con đất Quảng Trị nay xa xứ, thì tình người, tình đất và tình quê hun đúc và lưu dấu trong tâm hồn chị bật lên thành những câu thơ chất chứa tình thơ sâu nặng. Chị đã có Một Quê Hương nức lòng bạn đọc về một Quảng trị anh hùng xác xơ trong bom đạn đã thay da đổi thịt.
Tháng Bảy này chị có một khúc tráng ca về Quảng Trị có lẽ đã làm nao nao rất nhiều bạn đọc của nhiều thế hệ trong đó có tôi.Khúc tráng ca ấy mang tên:
Tháng Bảy Quê Mình.
Mới mấy năm
Xa quê mình Quảng Trị
Mà triền miên
Thao thức nỗi nhớ quê…
Mảnh đất nghèo bên nớ bên ni
Ru các anh vỗ về… yên giấc ngủ
Thạch Hãn, Cổ Thành 81 ngày đêm lửa đỏ
Ai ngang qua không nghiêng mũ cúi đầu…
Đã qua rồi…
Anh ở bên ni Hiền Lương đêm mong ngày đợi
Em ở bên tê Bến Hải ngày đợi đêm trông
Hai ta chung tắm một dòng
Nước sông kia mát rượi … đôi lòng nóng ran…
Tháng 7 sẽ nhiều hơn các đoàn đến thăm
Về nghĩa trang Trường Sơn, Cổ thành Quảng Trị
Thắp nén hương thơm viếng các anh hùng, liệt sĩ
Gạt nước mắt vào trong để nhìn kỹ những dòng tên…
Ơi quê mình chẳng thể nào quên
Đất thép Vĩnh Linh … mẹ nuôi con trong lòng đất
Bát nước chè xanh nặng tình người chân chất
Quảng Trị mình giàu nhất những nghĩa trang…
“Có nơi mô như ở quê mình
Nên ai đi xa cũng hoài nỗi nhớ”
Tên núi tên sông , đồi cây, ngọn cỏ
Máu các chị các anh nhuộm đỏ đất này…
Trời vẫn xanh cao, đất vẫn dày
Sống mặt tiền, chết cũng mặt tiền đấy
Hãy dâng lên... những bông hoa vừa hái
Rồi hướng về những nấm mộ vô danh...(Lê Thanh Bình -Tháng 7/ 2014)

Vẫn là những vần thơ mượt mà trau chuốt của dòng thơ Lê Thanh Bình như ta vẫn thấy. Nhưng nay không phải những câu lục bát mượt mà, mà là một bài thơ theo thể Tự do khoáng đạt, không theo luật vần, với một nhịp điệu không êm ả, đôi khi như khúc ngoặt, lối rẽ … Chuyên chở những tứ thơ chất chứa bao trở trăn, nặng lòng của người thiếu phụ, với mảnh đất kiên cường trong chiến tranh năm xưa nay đã hồi sinh.
Nhưng, lại vẫn là chữ Nhưng làm nghẹn lòng người đọc khi biết “Quảng Trị quê mình giàu nhất Nghĩa trang”.
Là người Việt Nam có lẽ ai cũng biết cả nước chỉ có 4 nghĩa trang quốc gia, Nghĩa trang Điện Biên thuộc tỉnh Điện Biên, Nghĩa trang Hàng Dương thuộc Côn Đảo. Hai nghĩa trang quốc gia còn lại thuộc tỉnh Quảng Trị : Nghĩa Trang Trường Sơn, Nghĩa Trang Đường 9. Hơn hai vạn ngôi mộ đã được quy tập về hai nghĩa trang này.
Nhưng câu thơ này tác giả có lẽ muốn nói nhiều hơn thế…Tôi bấm “nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Quảng Trị”. Kết quả có lẽ khiến cho nhiều người phải giật mình ngỡ ngàng khi nhìn Danh sách 72 nghĩa trang liệt sĩ…Trong khi chỉ có 1 thành phố,1 thị xã, 8 huyện. Một tỉnh với 10 đơn vị hành chính cấp huyện mà có tới 72 nghĩa trang liệt sĩ. Thử hỏi không giàu nhất nước sao được.
Hai nghĩa trang quốc gia hơn hai vạn ngôi mộ ,cả có danh và vô danh, 70 nghĩa trang còn lại nhỏ hơn…Tôi đã đọc được ở đâu đó người ta viết thế này : “Những ngôi mộ kề nhau, im lặng, Trắng đến lạnh người. Như mặt biển và hàng ngàn ngôi mộ chỉ như lớp sóng dồn nối đuổi nhau vỗ vào thời gian.”… nhưng thôi hãy để mỗi người tự nhẩm tính về sự “giàu nghĩa trang” của quê hương Quảng Trị.
Dòng sông Bến Hải chính là đôi bờ chia cắt dải đất mẹ thân thương. Thời chia cắt ấy hai bên tính từ bờ sông sâu vào 5km… được quy định là khu vực phi quân sự..vậy mà. Quảng Trị vẫn có một địa danh Khe Sanh nổi tiếng thế giới. Nơi ấy được coi như “địa ngục trần gian” hay là Điện Biên Phủ” thứ hai. Quảng Trị vẫn có Một sông Bến Hải, một cầu Ái Tử, một Cam Lộ,một Hướng Hóa,một Đông Hà, một Tà Cơn, một biển Cửa Tùng, Một Vĩnh Linh Thành đồng luỹ Thép, một Đường Chín Nam Lào, Một Thành Cổ, một Đại Lộ Kinh Hoàng…Chỉ cần nhắc tên những địa danh ấy là người nghe đã biết nó là chiến trường khốc liệt năm xưa…
Nhắc đến những địa danh ấy để thấu hiểu lòng người Quảng Trị xa quê với câu hỏi:
"Có nơi mô như ở quê mình
Nên ai đi xa cũng hoài nỗi nhớ"
Những tên núi tên sông đồi cây ngọn cỏ
Máu các chị các anh nhuộm đỏ đất này.
Nếu chỉ tính máu của các anh hùng liệt sĩ được quy tập vào hai nghĩa trang quốc gia mà đã thấy như “ lớp lớp sóng dồn đuổi vỗ vào thời gian”rồi. Hãy Tính thêm máu xương của những người còn nằm lại đâu đó giữa đại ngàn xanh, trong vườn tược ruộng nương nhà ai đó, trong lòng những con sông, con suối mà chưa tìm thấy được..Thêm một lượng máu xương không nhỏ của những người thương binh đã gửi lại một phần thân thể…Thêm máu xương của những người dân vô tội là nạn nhân của bom đạn không có mắt..
Sẽ là chưa đủ nếu không tính đến máu xương của những người lính bên kia chiến tuyến…Chiến tranh vốn là mất mát, vì quê hương, vì thời cuộc con người bắt buộc phải cầm súng hướng vào nhau, trên những mặt trận giao tranh ác liệt như Khe Sanh Như Cổ Thành như Đường 9 Nam Lào biết bao nhiêu xương máu đổ xuống. Để bây giờ bốn mươi năm sau khi tiếng súng đã im trên mảnh đất này. Người dân Quảng Trị nói riêng và người dân cả nước nói chung vẫn còn thấy “máu …nhuộm đỏ đất này.”
Nỗi niềm của tác giả, một người thiếu phụ sinh ra và lớn lên nơi mảnh đất ác liệt nhất của Quảng Trị..Huyện Vĩnh Linh nơi có con sông Bến Hải đôi bờ chia cắt…Chị “ Mới mấy năm./Xa quê mình Quảng Trị ./Mà triền miên./Thao thức nỗi nhớ quê…
Nỗi nhớ quê hương nào chỉ có tên đất tên sông, hay làng quê yêu dấu…mà tự đáy lòng người con “đất thép” còn trở trăn: “Mảnh đất nghèo bên nớ bên ni./ Ru các anh đêm ngày yên giấc ngủ”. Với những địa danh xưa nay khắc dấu trong tâm khảm người lính và người dân nơi đây có lẽ dù xa hay gần trong trái tim họ chưa một phút nào nguôi quên. Hình ảnh dòng nước Bến Hải, Thạch Hãn hôm nay êm đềm lặng lẽ trôi về biển hiền hoà mùa tháng 7 là thế. Mấy ai ngang qua còn nhớ “mùa hè đỏ lửa’ năm xưa “cả dòng sông là một nghĩa trang trôi” ( Thơ Hải Minh).
“Thạch Hãn, Cổ Thành 81 ngày đêm lửa đỏ”. Hôm nay nhất là tháng tri ân “Ai ngang qua không ngả mũ cúi đầu…” Đâu chỉ riêng những người dân Quảng Trị, Người hành hương trong cả nước, các cựu chiến binh về lại chiến trường xưa…Mà còn có nhiều rất nhiều du khách nước bạn đến đây, “ngả nón” nghiêng mình cúi đầu trước anh linh những người lính trẻ”. Sự tri ân nhắc nhớ như tác giả có lẽ đã chứng kiến rất nhiều nên chị đã chia sẻ với bạn thơ: Bao người ngả nón cúi đầu./ Có người chẳng nói lên câu…nghiêng mình./ Bởi còn nợ nghĩa nợ tình…” với những người đã khuất. Họ có lẽ không cần ai phải ngả nón kính cẩn tri ân…Ai nghiêng mình không nói được lên lời.? hãy để lương tâm đánh thức họ…
Nỗi lòng người thiếu phụ sống bên bờ ngăn cách dải đất mẹ, làm sao quên được những hồi ức dẫu “Đã qua rồi…” và xa rồi :
Anh ở bên ni Hiền Lương đêm mong ngày đợi./Em ở bên tê Bến Hải ngày đợi đêm trông./Hai ta chung tắm một dòng./ Nước sông kia mát rượi … đôi lòng nóng ran…”. Nhạc sĩ Lê Anh đã viết thay cho những chàng trai cô gái sống ở hai bên bờ sông ấy vào thời ngăn cách trong ca khúc Ôi Hiền Lương :
Có dòng sông nào chia cắt lứa đôi
Có dòng sông nào đò ngang cách trở
Dòng sông quê tôi
Dòng sông quê tôi một thời như thế
Ơi Hiền Lương Hiền Lương
Dòng sông hiền hoà
Tình người mặn mà ( Lê Anh Ôi Hiền Lương)
Quê hương Quảng Trị nay đã là nơi đến của rất nhiều hãng Lữ hành, và các đoàn cựu chiến binh về thăm chiến trường xưa, quanh năm ngay cả mùa bão lũ…. Tháng Tri ân những năm gần đây năm nào cũng thế. Nườm nượp các đoàn đến Quảng Trị …tỉnh Quảng Trị có hẳn một Nhà Đón Tiếp 27/7 tại Bắc cầu Đông Hà để đón hướng dẫn các đoàn thể và cá nhân cũng như thân nhân người đã khuất, đến dâng hương tại các nghĩa trang.
Nhưng với cái nhìn sâu thẳm của người thiếu phụ thì:
Tháng 7 sẽ nhiều hơn các đoàn đến thăm
Về nghĩa trang Trường Sơn, Cổ thành Quảng Trị
Thắp nén hương thơm viếng các anh hùng, liệt sĩ
Gạt nước mắt vào trong để nhìn kỹ những dòng tên…
Ơi quê mình chẳng thể nào quên
Đất thép Vĩnh Linh … mẹ nuôi con trong lòng đất
Bát nước chè xanh nặng tình người chân chất...

Với tâm tư người con đất Quảng hẳn chị đã nghẹn ngào mỗi khi ghé nơi đây. Hoặc giả chỉ cần nhìn những đoàn hành hương nườm nượp vào tháng bảy đã đủ nhói lên trong tim chị. Quê hương Đất Thép kiên cường, Mẹ nuôi con trong địa đạo, Quê hương chị một thời xơ xác vì chiến tranh nghèo của cải vật chất lắm, chỉ có “bát nước chè xanh nặng tình người chân chất.” Như tác giả Ngô Xuân Tiếu đã chia sẻ:
Hoài niệm một miền quê lửa đạn
Hố bom như mặt sàng
Thiếu mọi thứ chỉ thừa bom đạn
Quê hương ơi thương nhớ đất anh hùng
Quảng Bình Quảng trị kiên trung ( Ngô Xuân Tiếu)
Hay như Bloger lenguyenhong chia sẻ: “Quảng Trị mình cái gì cũng hai cả. Một làng chia hai. Một xã chia hai.Một huyện chia hai. Hai cầu Hiền Lương. Hai nghĩa trang Quốc Gia, Nhiều gia đình chia hai…Một mảnh đất đau thương anh dũng cả một thời đất nước chia hai, Mà Vĩnh Linh là hiển hiện rõ nhất. Mảnh đất này đi trước về sau chịu nhiều thua thiệt so với các địa phương khác cũng do chiến tranh tàn phá mà ra.”..Bao nhiêu tâm tư hồi ức nỗi niềm của người thiếu phụ xa quê, gửi gắm vào bài thơ nay cũng vào đoạn kết.
Trời vẫn xanh cao, đất vẫn dày
Sống mặt tiền, chết cũng mặt tiền đấy
Hãy dâng lên... những bông hoa vừa hái
Và nghĩ nhiều đến những nấm mộ vô danh...

Lại vẫn là những Nghĩa Trang điều cảm nhận của chị về quê là “giàu nhất”. Nhưng hiện tại hôm nay lại là điều nhức nhối mà chị muốn gửi gắm. Trời đất xưa nay vốn thế, cứ lẳng lặng. Thân xác mỗi một người thanh niên trai tráng ngã xuống đều đau đớn cho người thân như nhau. Cùng là người may mắn khi kết thúc chiến tranh được tìm thấy nơi yên nghỉ…Được về nằm trong nghĩa trang. Có tên tuổi, đơn vị, quê quán còn may mắn được người thân đồng đội tìm đến. Những ngôi mộ có tên nằm gần lối đi, hay đài tưởng niệm lúc nào cũng có khói hương…Xa xôi vào trong thì chỉ có người quản trang, hoặc người thân, đồng đội tìm đến…Người nằm trong mộ có tên đã vậy. Người vô danh thì sao? Càng xa đài tưởng niệm, càng sâu vào trong lối đi thử hỏi một năm có mấy cây chân nhang cháy trên đó…
Mà đâu có thể trách những người đến dâng hương tưởng niệm. Một nghĩa trang hơn một vạn ngôi mộ. thử hỏi có đoàn hành hương nào đi khắp lượt được. Xa xôi trong góc khuất của nghĩa trang, những ngôi mộ vô danh nếu may mắn nằm cạnh ngôi mộ có danh, có người thân đến nhận hương khói may ra có một đôi lần ấm nén hương thơm…. Bởi vậy mới thấy thấm thía câu “sống mặt tiền, chết cũng mặt tiền đấy”.
Thôi thì như tác giả viết “hãy dâng lên… những bông hoa vừa hái” hoa tươi thể hiện tấm lòng với người đã khuất…Tấm lòng tri ân xin hãy nghĩ tới “những nấm mộ vô danh…” Dấu ba chấm ấy, có lẽ dành riêng cho mỗi bạn đọc chúng ta tự chiêm nghiệm và chia sẻ…Với những anh hùng liệt sĩ chưa biết tên tuổi quê quán, với người dân thường không may bị bom đạn lạc đường cướp đi sinh mạng. Hay với những người lính của phía bên kia, Việt Nam có, các quốc gia khác có….Họ nằm rải rác đó đây trong những nấm mộ vô danh… Nghĩ về ai khi tưởng niệm là phần dành riêng cho mỗi bạn đọc.
Bài thơ Quê Mình Tháng Bảy của tác giả Lê Thanh Bình với cảm nhận của riêng tôi - thế hệ lớn lên trong hoà bình- Là như vậy.
Có thể đó chưa phải là tâm tư, là góc nhìn của tác giả cũng như phần đông bạn đọc. Nhưng xin hãy coi đây là tấm lòng với nén tâm nhang tôi dành cho những anh hùng liệt sĩ, dành cho những người là nạn nhân của chiến tranh, dành cho quê hương Quảng Trị nơi chiến trường ác liệt nhất năm xưa. Nếu có gì thiếu sót rất mong nhận được sự lượng thứ từ tác giả và bạn đọc.

Huỳnh Xuân Sơn-Tuy Hoà Phú Yên 24/7/2014
Nguồn: http://tho.com.vn/bai-viet/huynh-xuan-son-cam-nhan-bai-tho-thang-bay-que-minh-cua-tac-gia-le-thanh-binh/48664
Lê Thanh Bình cám ơn tác giả Huỳnh Xuân Sơn về bài cảm nhận này!Xin được cop về đây để mọi người cùng thưởng thức và chia sẻ.

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2014

Bạn đọc với bài thơ: Bến đợi.

Huỳnh Xuân Sơn với cảm nhận bài thơ Bến Đợi của tác giả Lê Thanh Bình
Không biết từ bao giờ?
Bắt đầu ở đâu? Do ai phát hiện ra? Mà cứ mỗi khi mùa hè về  lại có tiếng ve cất lên. Nếu có phải bộn bề công việc mưu sinh hoặc do nơi sinh sống chẳng phân ra ranh giới bốn mùa rõ rệt, thì cứ nghe tiếng râm ran của dàn đồng ca ấy cất lên là biết hạ đã về…
Hạ về! lại là khởi nguồn cho bao hoài niệm của thời tuổi hồng. Mỗi tuổi mỗi hoài niệm khác nhau. Hình như không ai giống ai cả…
Mùa hạ cũng là khởi nguồn cho cảm xúc thơ ca dâng trào…Thơ về mùa hạ thì nhiều vô kể như lớp lớp sóng  trên sông. Không con sóng nào, giống con sóng nào cả… Và Bến Đợi của tác giả Lê Thanh Bình là một con sóng đặc biệt trên dòng sông thơ mùa hạ.
Bến Đợi
(Tặng Một Người)
Tiếng ve thao thiết gọi hè
Khiến người day dứt lời thề ...bến xưa
Con sông ngày đứng tiễn đưa
Nửa bên nắng, nửa bên mưa rối bời...

Người đi như cánh chim trời
Để người ở lại bời bời ngóng trông
Dặn nhau giấu nhớ vào trong
Mà sao lại cứ mỏi mong thành lời...

Lời yêu ai thả cuối trời
Để ve khản tiếng ca bài hạ sang
Chia phôi cắt nửa vầng trăng
Ai đo nỗi nhớ thử bằng bao nhiêu??? (Lê Thanh Bình)

Bài thơ với lời đề tựa “Tặng một người”.Mạch thơ  như một tiếng lòng kìm nén lâu năm nay bật lên…Một chủ đề cũ, một thể thơ cổ, được tác giả viết về một hoàn cảnh ra đời không mới ( chia tay, đợi chờ, mong nhớ)  Nhưng để chuyên chở được những cái cũ, tưởng như đã rất cũ ấy lại là những ngôn từ mới , những ý thơ mới trẻ trung và khác lạ..mang dấu ấn riêng của người cầm bút rất riêng biệt.

Tiếng ve thao thiết gọi hè
Khiến người day dứt lời thề… bến xưa
Con sông ngày đứng tiễn đưa
Nửa bên nắng, nửa bên mưa rối bời…

Người ta thường cảm nhận tiếng ve rộn rã gọi hè! ở đây tác giả thấy tiếng ve thao thiết như tiếng lòng đang bồi hồi trong “day dứt lời thề…” . Bến xưa có một người, tiễn một người! bến sông ấy ở con sông nào vậy? Suốt dải đất hình chữ S chẳng có vùng nào có hiện tượng thời tiết "ác" đến vậy…Vậy chỉ có thể đấy là một con sông vô hình ngăn cách  dòng tình cảm. Bởi nó chia đôi thành: “Nửa bên nắng, nửa bên mưa”... Bên mưa thì  “rối bời”…nhưng còn “bên nắng” thì sao? Hay vì bên mưa rối bời mà không để ý tới bên nắng cũng đang như mối tơ vò đấy thôi!
Một khổ thơ đầy tâm trạng nhưng tràn ý thơ …Tiếng ve thao thiết này liệu có tiên tri như :

Tiếng ve trong veo xé đôi hồ nước
Con ve tiên tri vô tâm báo trước
Có lẽ một người cũng bắt đầu yêu
Muốn nói bao nhiêu, muốn khóc bao nhiêu ( Chiếc Lá Đầu Tiên- Hoàng Nhuận Cầm)…

Tiếng ve và hai nửa bên mưa, bên nắng ra sao? Ta đành phải nhờ tác giả trả lời để cùng đi tiếp

Người đi như cánh chim trời
Để người ở lại bời bời ngóng trông
Dặn nhau giấu nhớ vào trong
Mà sao lại cứ mỏi mong thành lời…

Có lẽ bên nắng đã là “người đi…” mà đi mải miết như “cánh chim trời”. Không hẹn ngày trở lại và chắc cũng chưa một lần trở lại Bến Xưa…
Bên mưa ở lại…nhạt nhoà …dõi mắt “ngóng trông”, mà trong lòng thì “bời bời” nỗi nhớ! Biết là chẳng thể quên đồng nghĩa với nhớ ùa về…Biết là đã mắt nói với mắt, lòng dặn với lòng. Hai trái tim nói với nhau “giấu nhớ vào trong”. Dặn thì dặn thế… Nhưng biết giấu đi đâu? Nơi nào đồng loã cho cất giấu nỗi nhớ ? lại không có ai chỉ đường dẫn lối cho biết. Có khi càng muốn giấu, lại chính là  không thể giấu được , cho nên: “Mà sao lại cứ mỏi mong thành lời”…
Hai câu thơ này cũng chính là hai tia sáng lấp lánh nhất làm điểm nhấn  trong bài thơ!
Ngày trước nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm cũng có những  nỗi nhớ rất đặc biệt

Nỗi nhớ đầu anh nhớ về em
Nỗi nhớ trong tim em nhớ về mẹ
Nỗi nhớ chẳng bao giờ nhớ thế
Bạn có nhớ trường nhớ lớp nhớ tên tôi (Chiếc Lá Bên Thềm)

Có nỗi nhớ nào trong số nỗi nhớ của thơ Hoàng Nhuận Cầm ở trên đây, là nỗi nhớ mà hai nửa bên mưa, bên  nắng dặn nhau “giấu nhớ vào trong” không?.. Điều này có lẽ chỉ có tác giả và “một người”được tặng bài thơ này mới trả lời được…
Căn nguyên dẫn đến nỗi nhớ mong mỏi phải bật lên bài thơ này đã phần nào lộ diện qua khổ kết:
Lời yêu ai thả cuối trời
Để ve khản tiếng ca bài hạ sang
Chia phôi cắt nửa vầng trăng
Ai đo nỗi nhớ thử bằng bao nhiêu???

Chỉ vì một lời yêu, nào có phải dành cho mình đã đành! Ai là ai? Mưa hay nắng?. Mà đang tâm đành đoạn mang “thả cuối trời”! Để rồi mỗi khi hạ về bằng lăng tím nở bên đường…bầy ve rộn ràng ca hát chào cái nắng nồng mùa hạ…đẹp là thế, sống động vui tươi là thế…mà để ai kia bồi hồi thổn thức mà ngỡ chúng “khản tiếng”.
Hạ sang, nỗi nhớ ùa về ngổn ngang…Ai nỡ cắt đi một nửa vầng trăng? phải chăng là “nửa bên nắng” bay đi như cánh chim trời mang theo cả lời yêu “thả cuối trời” xa tít…Nửa bên mưa ở lại…ngóng chờ, mong nhớ để rồi năm tháng lạnh lùng trôi qua…Tóc đã phai màu nắng, mây tím hoàng hôn đang buông rất gần…Chẳng thể đong đếm được kể từ buổi tiễn đưa “rối bời” ấy. Mỗi bên đã giấu được bao nhiêu nỗi “nhớ vào trong”…Biết bao nhiêu lần thao thiết nhớ thương thả hồn theo những âm thanh gọi mùa sang…nghèn nghẹn…Nén lòng…để rồi bật lên tiếng than! Không… hình như là câu hỏi! mà có lẽ là một sự đánh đố “Ai đo nỗi nhớ thử bằng bao nhiêu???”. Ba dấu  hỏi mà tác giả đặt ở cuối bài cùng câu thơ ấy. Tôi thấy lấp lánh viên đá quý chứa đựng trong nó chiều dài của nỗi nhớ mong, chiều rộng của nỗi nhớ thương, có sức nặng của chữ tình…
Một Bến Xưa ngọt ngào không hề xưa cũ chính là Bến Đợi mà tác giả mong “tặng một người”…
Tôi xin mượn một đoạn ca từ trong ca khúc Tình Nhớ của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để kết cho bài viết này và cũng là một lời chia sẻ gửi tới “nửa bên mưa” của tác giả Lê Thanh Bình.
Tình ngỡ đã quên đi. Như lòng cố lạnh lùng. Người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang…Tình ngỡ đã phôi pha. Nhưng tình vẫn còn đầy. Người ngỡ đã đi xa. Nhưng người vẫn quanh đây ….( Tình Nhớ- Trịnh Công Sơn)

Sài Gòn 9/6/2014
Huỳnh Xuân Sơn
Nguồn:http://tho.com.vn/bai-viet/huynh-xuan-son

Ngựa mỏi chân rồi bất ngờ và cảm động khi được đọc bài cảm nhận này!
 Tác giả Huỳnh Xuân Sơn đã có lời bình rất sát đúng với tác giả bài thơ muốn chuyển tải đến bạn đọc.Những tứ thơ, lời nhạc minh họa cho bài viết sao mà ấn tượng đến thế!
Chị Ngựa đã sang thi đàn xin cóp về như một món quà tặng cho mình vậy!
Huỳnh Xuân Sơn! Chị cám ơn em thật nhiều!
Lên đầu trang
Vào giữa trang
Xuống cuối trang